| Thượng báo tứ trọng ân - Hạ tế tam đồ khổ | |
|---|---|
| Tweet Topic Started: Mar 16 2012, 11:49 PM (3,573 Views) | |
| Tâm Đăng | Mar 16 2012, 11:49 PM Post #1 |
|
THƯỢNG BÁO TỨ TRỌNG ÂN, HẠ TẾ TAM ĐỒ KHỔ Trên đường danh lợi, vạn sự khởi đầu nan, thì trên đường tu Phật, bước đầu tiên lại gian lao khúc chiết bội phần. Bởi vậy, từ xưa tới nay, lắm người Thích tử bán đồ nhi phế, còn đại đa số thì ỷ lại nơi Phật đã thệ nguyện độ tận chúng sanh. Đành rằng Phật năng độ nhứt thiết chúng hữu tình, song Độ là chỉ giáo lập phương, khai thông trí não, gây nhân tạo duyên cho hàng Phật tử học tập tu hành, chớ Độ nào có nghĩa dùng thần thông quảng đại đưa chúng ta qua khổ hải trầm luân, về miền Cực Lạc. Nếu Đức Bổn Sư có thể hành động theo thế gian lầm tưởng, cớ sao Phật không độ vua cha là Tịnh Phạn vương cùng con là điện hạ La Hầu La. Vua cha và điện hạ tu chứng Thánh vị, nhờ ơn Phật chỉ dạy con đàng chánh tín một phần, phần lớn là do công lao tu tập tác phước thiện duyên của hai ngài. Như thế thì, muốn vào Thánh vức, phật tử chúng ta phải dày công gắng sức, tự vạch cho mình, hoặc nhờ Minh sư chỉ dạy, một con đường tu học khả dĩ giải thoát sanh tử luân hồi về cõi Trang nghiêm thanh tịnh. Sanh ra làm người, ai lại chẳng nhờ mẹ cha anh em thân quyến ; ngoài ra lại còn đồng bào chủng tộc nâng đỡ xây dựng cho ta. Thỏ chết chồn rầu, thì đứng làm người há thua cầm thú ? Bởi vậy, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam đề xướng “Thượng báo tứ trọng ân, hạ tế tam đồ khổ” làm bước đầu tiên trên đường tu Phật. Sao gọi là bốn trọng ân ? * Một là Ơn cha mẹ sanh thành cúc dục mười tháng cưu mang, ba năm bồng ẳm, ăn cay uống đắng, bú sữa mớm cơm. Ai kia có nhớ chăng ? Con khóc, cha mẹ âu sầu, con cười, mẹ cha hỉ dạ. Chẳng may con đau ốm, thì giàu cũng như nghèo, chơn không bén đất, rước thầy chạy thuốc, đêm năm canh thổn thức, ngày sáu khắc lo âu, cầu khẩn các đấng thiêng liêng cho con mau lành bịnh. Ngày con đã mạnh rồi, khá giả chẳng nói chi, nếu nghèo khó thì than ôi ! Phải làm thuê ở mướn, lo ngược tính xuôi, nhịn ăn nhịn mặc, lắm lúc cầm bán vật dụng trong nhà, hầu trang trải tiền thầy tiền thuốc. Đến khi con lên năm, lên bảy, lo sắm ăn sắm mặc, cho kịp bạn kịp thời, cha mẹ còn phải nghĩ đến đường học vấn cho con. Trai thì nghề nghiệp văn chương tốn hao chẳng nại, chỉ mong con sớm đặng thành danh, làm vinh hiển tông đường, biết giữ phận công dân, xứng đáng cho quê hương xứ sở. Gái thì cùng rèn tập văn chương, thêm phần công, dung, ngôn, hạnh, mai sau nên trang dâu thảo mẹ hiền. Học tập vừa xong thì lo bề gia thất, đấng sanh thành lại một phen lo nghĩ, nào cậy mai tìm mối, nào sắm sanh lễ vật cầu thân, giàu thì kim cương ngọc quí, nghèo thì vòng vàng chuỗi hột, tốn hao bao nhiêu chẳng tiếc, miễn sao cho con trẻ xứng đôi vừa lứa là phỉ chí toại lòng. Ơn cha mẹ như non cao biển rộng, phận làm con phải báo đáp cách nào ? Thánh nhân xưa đã dạy : “Lập thân hành đạo, dương danh ư hậu thế, dĩ hiển kỳ phụ mẫu, hiếu chi chung dã.” Lập thân danh hành đạo cả, nêu tên tuổi đời sau, làm vinh hiển cho song đường, ấy là làm con trọn thảo vậy. * Hai là Ơn Chánh phủ đem lại an ninh trật tự, đặt tỉnh, quận, tổng, làng, có quân lính tuần phòng, ngăn ngừa đạo tặc ; tu kiều bồi lộ, khai rạch xẻ kinh, cho tiện việc lưu thông. Lập nhà thương, trường học, nhà dưỡng lão, viện cô nhi, cùng các cơ quan xã hội, đặng cứu người bịnh hoạn, giúp kẻ cơ hàn, nuôi trẻ mồ côi và khai thông tri thức cho dân chúng. Nhờ Chánh phủ, trong trừ gian dẹp loạn, ngoài gìn giữ cõi bờ, con dân mới an cư lạc nghiệp, lại còn được tự do tín ngưỡng. Vậy, phật tử chúng ta đồng một lòng ngay thẳng, giữ dạ trung thành, làm tròn bổn phận công dân ; đó là đền đáp ơn Chánh phủ. * Ba là Ơn Minh sư giáo hoá, chỉ điểm mê đồ, triệu khai giác lộ, un đúc tâm công bình, luyện rèn tánh bác ái. Nào là người xuất gia tuyệt dục, nào là minh tâm kiến tánh, cùng những bực thấu tột nguyên lý của vũ trụ vạn hữu, tất cả đều thấm nhuần giáo pháp của Đức Minh sư chỉ dạy và lưu truyền. Danh hiệu Minh sư là danh hiệu của Đức Phật Thích Ca, Giáo chủ cõi ta ba nầy, một vị Giáo chủ toàn giác, toàn minh, vô thượng chánh đẳng. Còn danh hiệu Minh Trí là của Đức Tông sư Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam . Đức Tông sư thường nói : Ngài với chúng ta là thiện hữu tri thức. Suốt một đời tu học, Ngài am hiểu ít nhiều về Phật giáo. Đã thệ nguyện thực hiện trong đời mạt pháp nầy chủ nghĩa Từ bi Bác ái của Đức Như Lai. Ngài tự lãnh trách vụ chỉ bảo khuyến khích chúng ta trên đường tu tập. Hoài bão của Ngài là người người đều được “minh đức tân dân” chí chơn chí thiện, tế độ quần sanh, tổng giai thành Phật đạo. Có hai bực tu Phật : Một là hàng xuất gia, gọi là Tăng già, trường trai tuyệt dục, cắt ái từ thân, đoạn ly hương đẳng, danh lợi chẳng màng, lòng trần rửa sạch, giới luật hoàn toàn, tam tụ lục hoà tròn đủ. Toàn thể Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam ngày ngày cầu khẩn ơn trên cho Việt Nam có nhiều vị đại đức chơn tu, hầu dìu dắt nhơn sanh theo đường chánh tín. Hai là hàng cư sĩ có của có nhà, nghề nghiệp làm ăn, giữ tròn chánh mạng. Dù cho sơ cơ học Đạo, sóc vọng hoặc lục thập trai kỳ, chớ cũng biết quán tưởng tham thiền, ngăn ngừa tà kiến, giải phá si mê, dứt trừ phiền não. Đến những bực phát tâm dõng mãnh, thì cũng trường trai tuyệt dục, giới luật tinh chuyên, không khác chi tăng ni trong tứ chúng. Suy cho kỹ, thân tuy ở cửa Không, mà tâm vẫn điên đảo mê lầm, mến trần luyến tục, trục lợi đồ danh, thì có khác chi kẻ phàm phu tại thế. Còn thân tuy cư sĩ, nhưng tâm thường thanh tịnh, liễu ngộ lý mầu, thì sánh bực xuất gia kia không thua không kém. Tóm lại, dù cao dù thấp, dù Tịnh dù Thiền, lành dữ, mê ngộ là tại lòng mình. “Vạn Pháp Duy Tâm,” thì tại gia hay xuất gia, ai tu theo nhân nào thì chứng quả nấy, mảy mún chẳng sai. Ai là hàng phật tử, ráng gìn lòng chơn trực, khá giữ dạ chánh trung, nêu gương xán lạn cho đoàn hậu tấn noi theo, hầu báo đáp trọng ân của Đức Minh sư trong muôn một. * Bốn là Ơn nhơn quần xã hội. Vì sao phải chịu ơn xã hội ? Lời xưa có nói : vũ trụ là hí trường, công danh là bào ảnh. Quán theo chơn lý thật tướng, thì lời ví kia quá đúng. Đạo hữu nam nữ cùng chư thiện tri thức cũng đồng quan niệm rằng : trong việc sanh tồn, tất cả nhơn loại đều liên quan mật thiết với nhau. Thử nghĩ : chỉ một mình ta trên hoàn vũ, ta mới nương tựa vào ai để chống chọi với nắng mưa, ốm đau, đói rét. Vì lẽ bảo tồn, nhơn loại mới tụ tập kết đoàn hợp lũ, cho nên gọi là Nhơn quần. Nhơn loại sống chung lộn mà có thượng hạ tôn ty, cang thường luân lý, kỷ luật phân minh, cho nên gọi là Xã hội. Nhơn loại chung sống, kẻ làm nghề nầy người chuyên nghiệp nọ, trao đổi giúp đỡ lẫn nhau, chẳng luận màu da sắc tóc, không ai có thể sống riêng biệt một mình. Vì lẽ ấy, Âu Tây mới có châm ngôn : “Dù cho tài cao thế mấy đi nữa, chúng ta cũng cần phải nhờ nhõi kẻ kém sút ta thập bội.” (Quí ông bà biết Pháp văn, xin xem 2 bài ngụ ngôn của văn hào La Fontaine : Sư tử và con chuột ; Người thợ săn, chim bồ câu và con kiến). Tỉ như y phục của chúng ta, thì kẻ nuôi tằm ươm tơ phải thức khuya dậy sớm, người trồng bông, dãi nắng dầm sương mới có vải bô lụa là cho ta che thân đông cầu hạ cát, ôn sảnh thần hôn. Đến như đồ thực dụng hàng ngày, thì người nông phu phải cày sâu cuốc bẫm, đội nguyệt mang sao, trải bốn mùa tám tiết, gian lao khổ cực đến ngần nào. Còn người làm rẫy lập vườn, thì nào vô phân tưới nước, nào xới bón vun trồng, đủ giống đủ loài cao lương mỹ vị, mới có cho chúng ta no dạ, ngưỡng sự phủ dục, thu tự xuân thường. Thậm chí đến loài cầm thú súc vật cũng giúp đỡ ta chẳng ít. Trâu thì cày, ngựa thì cỡi, chó giữ nhà, gà gáy khuya, nhắc nhở ta đêm trường canh vắng ngăn ngừa trộm cướp. Cũng như động vật, thực vật đều hữu ích cho chúng ta tất cả. Ai ơi ! Còn nhớ chăng câu thánh huấn : “Nhơn ngô đồng bào, vật ngô đồng khí.” Người với ta cũng tai mắt tóc da, thịt xương tuỷ huyết, sanh ra đầu đội trời, chân đạp đất, biết nghĩ biết suy, có tình có nghĩa, cho nên gọi là đồng bào. Vật với ta đồng khí, cũng như ta, ham sống sợ chết, biết đau đớn kêu la, cũng biết có đôi bạn thương yêu, khác chăng chỉ không nói năng như ta vậy. Thể chất của người và vật như nhau, cho nên gọi là đồng khí, thì nỡ lòng nào đang tay ác độc, sát hại chẳng chút thương tình. Sách sử xưa còn ghi chép : “Kiết thảo hàm hoàn, tri ân tất báo.” Hồn linh kết cỏ, chim nọ ngậm vành đền đáp ơn thay, hà huống chi nhơn loại ! Ngày nay, chúng ta lỡ có thân giả hợp trong thời kỳ mạt pháp nầy, dù cho tuồng đời đen bạc thế mấy đi nữa, chúng ta cũng phải gắng sức tu hành, bền lòng học tập, phát tâm bồ đề rộng lớn, dõng mãnh tinh tấn độ mình, độ người đồng qua khổ hải. Như thế mới gọi là Thượng báo Tứ trọng ân. Kính thưa quí vị thính giả, Ơn nặng đã đền, phật sự chúng ta cũng chưa tròn vẹn. Chúng ta còn phải thực hành chủ nghĩa Từ bi, cứu độ nhơn sanh khỏi Tam đồ khổ mới đúng với cái bản hoài xuất thế của chư Phật. Thế nào gọi là Tam đồ khổ ? Một là đao đồ, tức là những nỗi khổ do gươm đao gây nên, thí như vì sân hận thù hiềm, nhơn loại lắm phen chém giết lẫn nhau, hoặc tương tàn tương sát để thoả lòng tham lam tật đố. Hai là thuỷ đồ, tức là những cảnh khổ do nước gây ra, thí như người sẩy chơn chết đuối, hoặc do những bão tố ngập lụt, khiến cho người vật phải nổi trôi chìm đắm. Ba là hoả đồ, tức là những cái khổ do lửa mà ra, thí như những cơn hoả hoạn thiêu đốt nhà cửa, thiêu sống hài nhi, kẻ chậm chơn trễ bước cùng người tật bệnh già nua. Gươm đao nước lửa đã gây và còn gây biết bao nhiêu cảnh lầm than điêu đứng cho nhơn loại, nên gọi là Tam đồ khổ. Xưa kia, Đức Bổn Sư đã minh chứng 4 cái khổ căn bản của chúng sanh là Sanh, Lão, Bệnh, Tử ; tam đồ khổ chỉ là một trong bốn cái khổ căn bản kia vậy. Biết đời là khổ, mà cứ miệt mài trong cảnh, lặn hụp trong đời, sao gọi là người trí thức ? Bởi vậy Đức Bổn Sư mới đoạn tình phu phụ, dứt nghĩa cha con, không sợ nhọc nhằn, không màng sống chết, quyết chí tìm phương giải thoát. Đến khi liễu ngộ đạo mầu, thay vì xuất thế về miền Cực Lạc, lòng bác ái từ bi thúc giục, Ngài lặn lội suốt 49 năm trường, chỉ vạch cho nhơn sanh đâu là con đường hạnh phúc. Thưa quí Ngài, hôm nay là ngày khai trương Phòng Thuốc Nam Phước Thiện. Khai mạc buổi lễ, chúng tôi khuyên nhủ đồng bào “Thượng báo tứ trọng ân, Hạ tế tam đồ khổ,” thiết nghĩ, đó là một vấn đề hợp lý hợp thời. Trên trường đời, giới tu hành thường nghe lời mỉa mai sau đây : “Đương thời khoa học nguyên tử, mà còn hạng người chuyên môn ru ngủ nhơn loại với thuyết Thần Thánh Đạo Đức, thật không còn chi lỗi thời, lạc hậu, phản tiến hoá.” Nhớ lời khuyên dạy của Đức Lục Tổ : “Người tu theo chánh đạo, chẳng xét thấy lỗi người.” Chúng ta há dám phê bình hành vi cử chỉ của những quí nhân dám đường đột thốt ra những lời nông nỗi, mạc thị phi dư. Điều cần yếu cho chúng ta đã trọng ân mến đức, là cùng nhau kết chặt giải đồng tâm, khuyến khích lẫn nhau mạnh tiến trên đường hành Đạo. Học Phật, chắc trong chư thiện tín có người thắc mắc và tự hỏi : “Chư tăng, ngoài thì lễ bái phụng thờ, trong thì trì kinh niệm chú, công phu đầy đủ. Còn cư sĩ, Giáo hội chỉ khuyên nhủ làm lành lánh dữ, chuyên lo Thượng báo tứ trọng ân hạ tế tam đồ khổ, thì làm sao giải thoát sanh tử luân hồi ?” Xin thưa : mặc dù rộng rãi thâm sâu, giáo lý của Đức Từ Phụ Bổn Sư có thể thu gọn vào sáu chữ : Bác Ái, Từ Bi, Hỷ Xả. Thuyết căn bản của Đức Thế Tôn là thuyết “Tứ Thánh Đế,” Nghĩa là người đời sanh sống trong cảnh khổ, khổ vì vô minh tạo ác nghiệp. Muốn diệt khổ thì phải giữ Đạo. Có Bát Chánh Đạo, mà tất cả chư thiện hữu nam nữ đều nằm lòng. Đức Phật Thích Ca còn thuyết minh “Thập nhị nhân duyên” để giải thích đệ nhứt và đệ nhị thánh đế là Khổ và Tập, và lục độ Ba-la-mật để bổ sung thuyết Bát Chánh Đạo. Thưa quí ông bà, lý thuyết là một biện chứng pháp giúp người học giả nghiên cứu tìm tòi ; khi đã am hiểu và tin lời Phật là chơn thật, thì cần phải có những phương châm, những tiện nghi để tiến bước trên đường giải thoát. Hạng người mê chấp cho rằng : chỉ cần học hai pháp Tứ Thánh Đế và Bát Chánh Đạo, rồi trì chí quán tưởng tham thiền, thì phát sanh Trí Huệ. Tin lời kia là “kim khoa ngọc luật,” lắm tăng ni ép mình vào am thanh cảnh vắng, chơn xếp kiết già, ngồi hoài chẳng nằm, gọi là tham thiền nhập định. Đối với hành động trên đây, chúng tôi chỉ xin quí vị thính giả xem lại sự tích của Ngài Trí Hoàng thiền sư, ngồi thiền nhập định đăng đẳng 20 năm trường, mà không lời đối đáp với Ngài Huyền Sách, đệ tử của Đức Lục Tổ Huệ Năng. Sao gọi là Tham Thiền Quán Tưởng Nhập Định ? Vấn đề nầy đã giải thích trong quyển “Phước Huệ Song Tu,” đây chỉ tóm tắt : “Bất kỳ xứ sở nào, thời khắc nào, không chấp không bỏ một sự một vật ; đi đứng nằm ngồi, thân tâm tự tại vô ngại là thiền định. Đối với hết thảy cảnh giới lành dữ, vui buồn, tâm tư chẳng dấy chẳng tưởng, đó gọi là Thiền ; trong thấy bổn tánh chẳng động, đó gọi là Định, ngoài Thiền trong Định, tức là Thiền Định. Người nói tham thiền nhập định mà còn buộc trói mình trong tịnh thất, hành động ấy hàm súc sự lo sợ tiền trần cấu nhiễm. Hễ sợ thì loạn, đã loạn tức là chẳng Định. Còn nói quán tưởng nhập định thì phải ngồi hoài chẳng nằm, chơn tay thu xếp kiết già, chưa chắc cách thức buộc ràng kia khơi nguồn Trí Huệ cho người hành giả. Trái lại có lẽ đúng hơn, thân bị thúc phược đê mê, tự khắc trí não phải mờ ám. Như thế thì làm sao quán xét thấu triệt lẽ huyền vi của vũ trụ. Không thấu hiểu, tức là si mê, si mê là không Trí Huệ. Không Trí Huệ thì không Định vậy. Phật tử chúng ta chớ khá hiểu lầm Định Huệ riêng khác. Định là thể của Huệ, Huệ là dụng của Định. Trong lúc Định tức là Huệ, thì Định ở nơi Huệ. Trong lúc Huệ tức là Định, thì Huệ ở nơi Định. Định Huệ vốn đồng một thể chẳng phải hai. Thưa quí ông bà, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội Việt Nam vạch một đường lối tu học chơn chánh, khiến người hành giả sơ khởi tu tập Tam Tụ Lục Hoà, rồi lần hồi trừ lục căn, diệt lục trần, hành lục độ, đắc lục thông. Thông suốt tất cả là người Trí Huệ quang minh vậy. Sẽ có người hỏi : con đường Phước Huệ Song Tu có đúng với giáo lý của Đức Từ Phụ Bổn Sư chăng ? Xin thưa : rất đúng. Vì trong Kinh Điển có ghi chép : Tài pháp nhị thí thỉ thành công, Phước Huệ lưỡng toàn phương tác Phật. Chắc quí vị thính giả đều công nhận lẽ nầy : Có thấy biết chơn chánh, con người mới nghĩ suy, nói năng, hành động và sanh sống chơn chánh. Từ lúc qui y thọ giới đến lúc vãng sanh, hành vi cử chỉ luôn luôn chí chơn chí thiện, dũng mãnh và tinh tiến, tức là người tịnh định, hay là người Trí Huệ quang minh. Như thế thì con đường Phước Huệ Song Tu của Đức Tông Sư Minh Trí đã đề xướng là một phương pháp thực hành Bát Chánh Đạo của Đức Như Lai. Phước Huệ Song Tu cũng là biểu tượng của người minh tâm kiến tánh. Người tâm minh là người sáng suốt, hiểu rõ biết rõ bổn tánh chơn như diệu giác của mình, là người đồng thể tánh với Phật. Tánh Phật là tánh Từ bi Hỷ xả, nghĩa là hay cứu khổ ban vui cho đời, thường hành lợi lạc quần sanh, không mỏi mê, không dính mắc. Nói cho dễ hiểu, người minh tâm kiến tánh là người phước huệ lưỡng toàn vậy. Đến đây, thiết tưởng quí vị thính giả đã nhận định “Phước Huệ Song Tu,” mà “Thượng Báo Tứ Trọng Ân, Hạ Tế Tam Đồ Khổ” là chặng đường đầu, là phương pháp duy nhứt dễ nhứt cho kẻ trí người ngu tu tập, và một khi đến chỗ rốt ráo hoàn toàn, sẽ chứng quả vị Thánh nhơn trong đời sống hiện tại. Thưa quí Ngài, Đạo Phật là vô thượng, ân đức của Phật là vô biên, oai linh của Phật là vô cùng vô tận. Dù đã dày công học hỏi tìm tòi, chúng tôi là hàng cư sĩ tại gia tài sơ đức bạc, hẹp thấy ít nghe ; song vì bản nguyện lợi kỷ lợi tha, mới tỏ bày đôi lời quê kịch, một vài ý kiến thấp hèn, dám mong chư liệt vị cao minh rộng thứ. Trước khi dứt lời, chúng tôi nguyện cầu âm siêu dương thới, lưỡng lộ tồn vong, tổng giai thành Phật đạo. Chúng tôi cũng nguyện cầu : Thế giới hoà bình, vạn dân hạnh phúc. Nam Mô A Di Đà Phật |
![]() |
|
| 1 user reading this topic (1 Guest and 0 Anonymous) | |
| « Previous Topic · Luận giải · Next Topic » |





8:06 AM Jul 11
